VKS có nhiệm vụ, quyền hạn gì khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố?

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 236 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố được quy định như sau:

“Điều 236. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can.

2. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết.

3. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra.

4. Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra.

5. Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung.

6. Quyết định tách, nhập vụ án; chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

7. Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.

8. Quyết định truy tố.

9. Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can.

10. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo quy định của Bộ luật này.”

2. Quy định của BLTTHS 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố.

Truy tố là giai đoạn tố tụng hình sự trong đó Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố nhà nước để truy tố bị can trước pháp luật hoặc có những quyết định cần thiết để giải quyết vụ án hình sự.

Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát dựa vào tài liệu chứng cứ của vụ án (từ hồ sơ vụ án do CQĐT, có quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chuyển sang) và trực tiếp thu thập thêm tài liệu chứng cứ (nếu cần thiết) để xem xét, cân nhắc ra các quyết định tố tụng phù hợp. BLTTHS 2015 quy định chi tiết, toàn diện hơn về các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố vụ án hình sự. BLTTHS 2015 đã tách bạch, quy định rõ các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố.

Các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố hình sự bao gồm:

- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

- Yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết;

- Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra. Đặc biệt, khoản này được quy định tại Khoản 2 Điều 12 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, cụ thể:

“Điều 12. Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra

2. Trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại khoản 3 Điều 236, khoản 1 Điều 246 Bộ luật Tố tụng hình sự mà thấy cần phối hợp với Cơ quan điều tra thì chậm nhất 24 giờ trước khi tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát thông báo cho Cơ quan điều tra thời gian, địa điểm tiến hành một số hoạt động điều tra để phân công Điều tra viên cùng phối hợp thực hiện; trường hợp Điều tra viên vắng mặt thì chậm nhất 02 giờ trước khi Kiểm sát viên tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên biết.”

- Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra;

- Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung;

- Quyết định tách, nhập vụ án; chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Ngoài ra, quyết định tách, nhập vụ án; chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn được quy định chi tiết tại khoản 1, 2, 4 Điều 28 và Khoản 2, 3 Điều 29 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, cụ thể:

“Điều 28. Việc quyết định áp dụng thủ tục rút gọn

1. Trường hợp xét thấy vụ án có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 456 Bộ luật Tố tụng hình sự mà Cơ quan điều tra không ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc có văn bản nêu rõ lý do không áp dụng thủ tục rút gọn. Trường hợp nhận được văn bản nêu rõ lý do không áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra mà Viện kiểm sát thấy phải áp dụng thủ tục rút gọn thì Viện kiểm sát ra quyết định và chuyển cho Cơ quan điều tra để thực hiện.

2. Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật, thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định, Viện kiểm sát phải ra quyết định hủy bỏ quyết định đó.

4. Trong giai đoạn truy tố, nếu thấy không còn một trong các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 456 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc vụ án, bị can được tạm đình chỉ, thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

Điều 29. Chuyển vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền; nhập, tách vụ án hình sự

2. Trường hợp Viện kiểm sát chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền thì Cơ quan điều tra kết thúc điều tra vụ án có trách nhiệm phối hợp cùng Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án thực hiện yêu cầu, quyết định chuyển vật chứng (nếu có) và quyết định khác của Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố.

3. Trường hợp có căn cứ để nhập, tách vụ án hình sự theo quy định tại Điều 170, Điều 242 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trao đổi, thống nhất trước khi ra quyết định. Trường hợp có đủ căn cứ, điều kiện nhập, tách vụ án hình sự nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định nhập, tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra.”

- Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

- Quyết định truy tố;

- Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can;

- Quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can;

Và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo quy định của BLTTHS 2015.

Trong số các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, việc quy định Viện kiểm sát có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết  và trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho CQĐT là cơ sở pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát chủ động bổ sung tài liệu chứng cứ trong giai đoạn truy tố. Cần lưu ý tính chất và phạm vi hoạt động điều tra mà Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành chỉ là những hoạt động điều tra không quá phức tạp, không đòi hỏi việc sử dụng mức độ cao các lực lượng, phương tiện, biện pháp phục vụ điều tra, bao gồm các hoạt động lấy lời khai, hỏi cung đối chất, thực nghiệm điều tra đơn giản, không phải dựng lại hiện trường.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/07/2021

Bài viết trình bày về quy định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc thay đổi Thư ký Tòa án như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/07/2021

Bài viết trình bày về quy định thay đổi Thư ký Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Người tham gia tố tụng bao gồm những ai? Được Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/07/2021

Bài viết trình bày về những chủ thể tham gia hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố là gì?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/07/2021

Bài viết trình bày về người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền và nghĩa vụ như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 21/07/2021

Bài viết trình bày về người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Trong những trường hợp nào BLTTHS 2015 quy định cần phải chỉ định người bào chữa?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/07/2021

Bài viết trình bày về nội dung chỉ định người bào chữa trong quá trình hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

BLTTHS 2015 quy định về lựa chọn người bào chữa như thế nào?

Hỏi đáp luật Hình Sự 22/07/2021

Bài viết trình bày về nội dung quy định lựa chọn người bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.