Giải quyết tranh chấp lao động tập thể tại nơi sử dụng lao động không được đình công như thế nào? (Phần 1)

Theo Điều 209 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 và Phụ lục VI kèm theo Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, tại một số nơi sử dụng lao động, người lao động không được đình công (Tham khảo: Nơi nào sử dụng lao động không được đình công? Phần 1, Phần 2). Vậy trong những trường hợp này thì tranh chấp lao động tập thể về lợi ích được giải quyết như thế nào khi theo Điều 195 Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 thì chỉ có 02 chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Tuy nhiên, theo Điều 107 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, đối với trường hợp nơi sử dụng lao động không được đình công thì có 03 chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động, bao gồm hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong đó:

1. Hòa giải viên lao động

Hòa giải viên lao động là cá nhân do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ giải quyết tranh chấp lao động, tranh chấp liên quan đến hợp đồng đào tạo nghề, và hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.

Đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích nói chung và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích tại nơi sử dụng lao động không được đình công nói riêng thì đều phải giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải viên đầu tiên trước khi tiến hành giải quyết thông qua các chủ thể khác.

Khi có yêu cầu về hòa giải tranh chấp lao động, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cử hòa giải viên lao động tham gia giải quyết tranh chấp lao động của các bên trong vòng 05 ngày (hoặc 12 giờ nếu hòa giải viên trực tiếp nhận yêu cầu). Hòa giải viên thực hiện nhiệm vụ thông qua tổ chức buổi họp mặt cho các bên tranh chấp, tại đây xảy ra 04 trường hợp:

- Hai bên trong tranh chấp lao động tập thể về lợi ích cùng thỏa thuận và tự có phương án giải quyết tranh chấp lao động, hòa giải thành.

- Khi 02 bên không thể tự thỏa thuận, hòa giải viên đưa ra phương án giải quyết tranh chấp.

+ Nếu các bên chấp thuận thì hòa giải thành

+ Nếu các bên không chấp thuận thì hòa giải không thành

- Hết thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa giải, hòa giải viên vẫn không thực hiện giải quyết tranh chấp lao động (không tổ chức họp hòa giải)

- Sau khi có biên bản hòa giải thành, một trong hai bên tranh chấp không thực hiện theo biên bản hòa giải

Đối với các trường hợp trên, trừ trường hợp hòa giải thành, các bên có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp thông qua chủ thể khác là Hội đồng trọng tài lao động hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

2. Hội đồng trọng tài lao động

Hội đồng trọng tài lao động là tổ chức được thành lập theo nhiệm kỳ bởi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Các thành viên trong Hội đồng trọng tài lao động cũng được bổ nhiệm bởi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thực hiện nhiệm vụ giải quyết tranh chấp lao động, tranh chấp liên quan đến hợp đồng học nghề và hỗ trợ phát triển quan hệ lao động.

Đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích nói chung, các bên tranh chấp chỉ có thể chọn Hội đồng trọng tài lao động sau khi đã giải quyết tranh chấp lao động qua hòa giải viên lao động và không thành, do chỉ có 02 chủ thể có quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích. Tuy nhiên đối với trường hợp tại nơi sử dụng lao động không được đình công, các bên có thể lựa chọn giữa Hội đồng trọng tài lao động và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để giải quyết.

Sau khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, Hội đồng trọng tài lao động và các bên tranh chấp tiến hành chọn thành viên và thành lập Ban trọng tài lao động (bao gồm 02 trọng tài viên do mỗi bên lựa chọn và 01 Trưởng Ban trọng tài lao động do 02 trọng tài viên này lựa chọn hoặc 01 trọng tài viên duy nhất do cả 02 bên tranh chấp cùng chọn). Ban trọng tài lao động này tiến hành thực hiện nhiệm vụ cụ thể: Nghiên cứu hồ sơ, xác minh chứng cứ, tổ chức cuộc họp giải quyết tranh chấp, đưa ra quyết định giải quyết tranh chấp lao động cho các bên. Tại đây xảy ra các trường hợp:

- Các bên thực hiện theo quyết định của Ban trọng tài lao động

- Các bên không thực hiện theo quyết định của Ban trọng tài lao động

- Hết hạn 07 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp nhưng không thành lập được Ban trọng tài lao động

- Hết thời hạn 30 ngày nhưng Ban trọng tài lao động chưa đưa quyết định giải quyết tranh chấp lao động

Trừ trường hợp đầu tiên, các trường hợp còn lại đều là giải quyết thất bại, nếu trong trường hợp tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bình thường thì tổ chức đại diện người sử dụng lao động có thể tiến hành đình công, tuy nhiên, trong trường hợp nơi sử dụng lao động không được phép đình công thì các bên có quyền yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp thay cho đình công.

Tuy nhiên, không đồng thời cùng yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp lao động cùng một lúc.

Để tìm hiểu về thêm về chủ thể còn lại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, xin tham khảo: Giải quyết tranh chấp lao động tập thể tại nơi sử dụng lao động không được đình công như thế nào? (Phần 2).

Luật Hoàng Anh

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Các tranh chấp lao động cá nhân nào không bắt buộc phải được giải quyết qua hòa giải viên lao động?

Hỏi đáp luật Lao động 05/06/2021

Bài viết này giải thích về các tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc phải được giải quyết qua hòa giải viên lao động

Giải quyết quyền lợi của người lao động như thế nào khi hoãn, ngừng đình công?

Hỏi đáp luật Lao động 11/06/2021

Bài viết giải thích về việc giải quyết quyền lợi của người lao động khi hoãn, ngừng đình công

Quyền, trách nhiệm của người lao động khi ngừng đình công như thế nào?

Hỏi đáp luật Lao động 11/06/2021

Bài viết giải thích về quyền, trách nhiệm của người lao động khi ngừng đình công gồm trở lại làm việc và lương

Quy trình xử lý đình công không đúng trình tự, thủ tục như thế nào?

Hỏi đáp luật Lao động 11/06/2021

Bài viết giải thích về quy trình xử lý đình công không đúng trình tự, thủ tục