2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
MỤC LỤC
Cùng chuyên mục
Quyết định đình công được biết đến như một văn bản có tính quyết định đối với hoạt động đình công của người lao động. Vậy quyết định đình công là gì, được ban hành khi nào? Sau đây Luật Hoàng Anh xin trình bày về vấn đề này.
- Bộ Luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2019 (Bộ Luật lao động 2019);
Theo góc độ pháp lý, đình công là quyền cơ bản của người lao động, do đó, pháp luật nước nào cũng nên có quy định về hoạt động đình công của người lao động.
Đối với pháp luật Việt Nam, căn cứ theo quy định tại Điều 198 Bộ luật lao động 2019:
Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo.
Dựa vào quy định này, có thể phân tích khái niệm đình công như sau:
Thứ nhất, đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện, có tổ chức được thực hiện bởi người lao động
Hoạt động đình công do người lao động thực hiện và chỉ có người lao động có thể thực hiện. Một người lao động cũng không thể thực hiện đình công do không gây được áp lực về kinh tế lên người sử dụng lao động. Do vậy, phải có một số lượng lớn người lao động tham gia ngừng việc, thì mới đủ khả năng khiến người sử dụng lao động cân nhắc yêu cầu của người lao động, và đáp ứng điều kiện đầu tiên để trở thành “đình công”. Những người lao động này cũng không ngừng việc hẳn, không đơn phương chấm dứt hợp đồng vì đình công với mục đích đảm bảo yêu cầu của người lao động, nếu đã nghỉ việc, thôi việc đồng loạt thì không còn đáp ứng mục đích của đình công nữa.
Đình công là sự ngừng việc của người lao động dù số lượng là bao nhiêu cũng phải được diễn ra một cách tự nguyện và có tổ chức. Nếu người lao động bị ép thực hiện đình công thì các yêu cầu đối với người sử dụng lao động không phải là yêu cầu, mong muốn của người lao động, dẫn đến hoạt động ngừng việc không còn mang ý nghĩa bảo đảm, nâng cao quyền lợi của người lao động nữa, thì không thể coi là đình công. Tương tự, nếu hoạt động ngừng việc của một nhóm lao động được thực hiện tự phát, không có tổ chức lãnh đạo, dẫn đến không có sự thống nhất trong ngừng việc và các hoạt động khác trong quá trình ngừng việc, có thể xảy ra các hành vi quá khích như đập phá, bạo động,… gây mất trật tự, an ninh xã hội, như vậy không thể coi là đình công hợp pháp.
Thứ hai, đình công được tổ chức và lãnh đạo bởi tổ chức đại diện người lao động có thẩm quyền thương lượng tập thể và là một bên tranh chấp lao động tập thể
Do đình công của người lao động phải có tổ chức, cần có một chủ thể có thể lãnh đạo và tổ chức một cách bài bản, hợp pháp cho hoạt động ngừng việc của người lao động. Chủ thể phù hợp nhất là tổ chức đại diện người lao động vì chủ thể này có sự liên kết chặt chẽ đối với người lao động, đại diện cho người lao động thực hiện thể hiện một số quyền của người lao động với người sử dụng lao động (như đóng góp ý kiến tham khảo để người sử dụng lao động xây dựng nội quy lao động) và cũng là chủ thể có quyền tham gia vào các cuộc họp kỷ luật lao động, tổ chức các hoạt động ngoài giờ cho người lao động như tuyên truyền phòng, chống quấy rối tình dục,… Đồng thời cũng là chủ thể có quyền tham gia và yêu cầu thương lượng tập thể.
Tuy nhiên hiện nay, có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở được thành lập và hoạt động. Tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng là tổ chức đạt đủ tiêu chuẩn về số lượng thành viên do Chính phủ quy định, nếu tại cơ sở có nhiều tổ chức đại diện người lao động có đủ tiêu chuẩn về số lượng thành viên thì tổ chức có nhiều thành viên hơn có quyền yêu cầu thương lượng tập thể. Ngoài ra nếu các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở không có đủ số thành viên thì có thể kết hợp với nhau để yêu cầu tham gia thương lượng tập thể. Các chủ thể này sau đó trở thành bên tranh chấp trong tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, hoặc tranh chấp lao động tập thể về quyền thì có quyền và trách nhiệm lãnh đạo, tổ chức đình công khi không thể giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải viên, hội đồng trọng tài.
Thứ ba, đình công có mục đích là đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể
Mục đích của đình công không phải để người sử dụng lao động chịu thiệt hại về vật chất hay trả thù người sử dụng lao động. Mục đích của đình công là gây áp lực cho người sử dụng lao động, khiến người sử dụng lao động phải có các động thái phối hợp với người lao động, tổ chức đại diện người lao động giải quyết tranh chấp lao động, hoặc phải có phương án mà các bên tranh chấp cùng chấp nhận được để kết thúc tranh chấp này.
Từ việc phân tích khái niệm đình công, có thể thấy việc nhận dạng đình công phải dựa vào những dấu hiệu cơ bản sau đây:
- Dấu hiệu thứ nhất: Đình công là sự phản ứng của những người lao động thông qua hành vi ngừng việc hoàn toàn. Trong điều kiện bình thường, người lao động có nghĩa vụ phải làm việc theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc sự phân công của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra bất đồng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động hay một thể thể khác, tập thể lao động có thể ngững việc nhằm gây áp lực buộc chủ thể kia phải chấp nhận các yêu sách. Sự ngừng việc này được coi là hợp pháp hay bất hợp pháp tùy thuộc vào quy định của pháp luật những đây là dấu hiệu đầu tiên, là thuộc tính cơ bản phản ánh tính chất của đình công.
- Dấu hiệu thứ hai: Đình công là hiện tượng phản ứng có tính tập thể được tiến hành bởi những người lao động. Đình công là biện pháp phản ứng của tập thể lao động. Sự tham gia của tập thể lao động vừa là một trong các biểu hiện bên ngoài của đình công, vừa là một dấu hiệu không thể thiếu của đình công. Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt đình công với sự ngừng việc của cá nhân người lao động. Thông thường, nếu cá nhân người lao động tự ý ngừng việc nhằm gây sức ép với người sử dụng lao động sẽ bị coi là vi phạm kỉ luật lao động, cá nhân đó có thể phải chịu chế tài kỉ luật hoặc phải bồi thường thiệt hại (nếu có) cho chủ sử dụng lao động. Nhưng nếu là hành vi ngừng việc được thực hiện bởi tập thể lao động, là nhóm người có cùng động cơ và mục đích hoạt động, phối hợp với nhau một cách chặt chẽ, đồng bộ và có hiệu quả trong quá trình đình công nhằm gây sức ép thì lại được coi là đình công.
- Dấu hiệu thứ ba: Đình công được thực hiện một cách có tổ chức. Tính tổ chức của cuộc đình công được hiểu là người có lãnh đạo đình công, đình công có yêu sách rõ ràng và đã được chuẩn bị trước. Thành phần lãnh đạo đình công có thể là tổ chức đại diện của những người lao động như công đoàn hay nghiệp đoàn hoặc tổ chức đại diện cho người lao động tại doanh nghiệp. Trong thực tế, tính tổ chức của đình công thường thể hiện như sau:
(i) Có một cá nhân hoặc một nhóm người đóng vai trò lãnh đâọ đình công, những người này đại diện cho ý chí của tập thể lao động và tập thể này sẽ tuân thủ sự chỉ đạo của họ trong quá trình đình công
(ii) Có phương án hành động cụ thể được xác định rõ ràng trong từng thời điểm, phương án này thường được chuẩn bị trước khi tiến hành đình công.
(iii) Có phương châm hành động với những nguyên tắc và thể lệ rõ ràng được mọi người tôn trọng;
(iv) Được sự giúp đỡ về vật chất hoặc ủng hộ về tinh thần của các cá nhân hoặc tổ chức khác đối với những người tham gia đình công thông qua vai trò của một tổ chức lãnh đạo chung.
- Dấu hiệu thứ tư: mục đích của đình công là nhằm đạt những yêu sách gắn với lợi ích của tập thể lao động. Khi tiến hành đình công, những người lao động gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại với người sử dụng lao động hay một chủ thể khác để đạt được những yêu sách nhất định.Trong trường hợp nhà nước và người sử dụng lao động không có các biện pháp phù hợp nhằm điều hòa, hạn chế những mâu thuẫn về lợi ích trong quan hệ với người lao động, khiến người lao động cho rằng không còn các biện pháp ôn hòa nào có thể bảo vệ quyền lợi của mình, họ sẽ phản ứng bằng cách ngừng việc tập thể nhằm gây sức ép với nhà nước hoặc chủ sử dụng lao động - đó chính là hiện tượng đình công.
Căn cứ vào tính chất đình công, có thể chia đình công thành hai loại là đình công kinh tế và đình công chính trị.
- Đình công kinh tế: Là những cuộc đình công nhằm gây sức ép với người sử dụng lao động hoặc chủ thể khác để đạt được quyền và lợi ích lớn hơn liên quan đến quan hệ lao động như việc làm, tiền lương, thu nhập, điều kiện lao động.... trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, nghề nghiệp. Đây là loại đình công phổ biến nhất, phản ánh rõ nét bản chất của đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế.
- Đình công chính trị: Là những cuộc đình công nhằm gây sức ép để phản đối chính quyền hoặc nhà nước hoặc các đảng phái chính trị nhằm đạt được các mục đích chính trị mà người đình công quan tâm. Thông thường cuộc đình công chính trị là nhằm phản đối chính sách hoặc quy định liên quan đến quyền lợi của giới lao động và xảy ra trên phạm vi quy mô lớn. Đình công chính trị có ảnh hướng lớn đến trật tự, an ninh xã hội và sự tồn tại của các chế độ cầm quyền trong phạm vi quốc gia.
Căn cứ vào mục đích đình công, có thể chia đình công thành hai loại là đình công yêu sách và đình công hưởng ứng.
- Đình công yêu sách là những cuộc đình công nhằm đạt được các yêu sách về quyền và lợi ích cho chính những người lao động tham gia đình công. Điều này cũng không loại trừ trường hợp yêu cầu mà những người đình công đưa ra có thể còn mang lại lợi ích cho những người không tham gia đình công. Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận những cuộc đình công nhằm giải quyết những tranh chấp lao động thể mới là hợp pháp. Đa số các cuộc đình công hiện nay là đình công yêu sách.
- Đình công hưởng ứng: Là những cuộc đình công nhằm ủng hộ, bày tỏ thái độ đồng tình để hỗ trợ cho cuộc đình công khác trong khi những người tham gia đình công không có yêu sách về quyền và lợi ích của mình. Những cuộc đình công hưởng ứng thường xuất hiện ở những nơi sử dụng lao động tập trung như các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc trong một ngành, trong những ngành liên quan hoặc khi khi nghiệp đoàn của người lao động kêu gọi ủng hộ.
Căn cứ vào phạm vi đình công, có thể chia đình công thành bốn loại là đình công bộ phận doanh nghiệp, đình công doanh nghiệp, đình công ngành/khu vực và tổng đình công.
- Đình công bộ phận doanh nghiệp: Là những cuộc đình công do tập thể lao động trong phạm vi một doanh nghiệp tiến hành. Trong đó, mô hình doanh nghiệp ở đây được hiểu là một đơn vị sử dụng lao động. Đây là các đơn vị thường xảy ra đình công, cũng là phạm vi đình công thường được pháp luật thừa nhận.
- Đình công ngành/khu vực: Là những cuộc đình công của những người lao động trong phạm vi một ngành/khu vực tiến hành.
- Tổng đình công: Là những cuộc đình công của những người lao động trong phạm vi nhiều ngành hoặc nhiều khu vực trong cả nước tiến hành. Về nguyên tắc, tổng đình công có thể do giới lao động trong phạm vi quốc gia tiến hành.
Căn cứ vào tính hợp pháp của đình công, có thể chia đình công thành hai loại là đình công hợp pháp và đình công bất hợp pháp.
- Đình công hợp pháp: Là các cuộc đình công tuân thủ các quy định của pháp luật. Mục đích cơ bản của các quy định này là để nhà nước kiểm soát đình công, hạn chế những cuộc đình công không cần thiết hoặc có tính chất tiêu diệu đối phương, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân, an ninh quốc phòng. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, đình công được coi là hợp pháp nếu thuộc các trường hợp người lao động có quyền đình công, đồng thời không thuộc các trường hợp đình công bất hợp pháp.
- Đình công bất hợp pháp: Là cuộc đình công vi phạm các quy định pháp luật về đình công.
Khi xảy ra tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, để giải quyết tranh chấp thì trước hết người sử dụng lao động và tập thể người lao động phải tự dàn xếp, thương lượng, thỏa thuận với nhau. Trường hợp hai bên không thể tự thương lượng được với nhau, khi đó cần đến sự can thiệp của bên thứ ba là hòa giản viên lao động hoặc hội đồng trọng tài lao động. Việc hòa giải của hòa giải viên lao động hoặc hội đồng trọng tài lao động phải được tiến hành theo thủ tục luật định. Khi hết thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết mà ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thành lập mà ban trọng tài không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc người sử dụng lao động là bên tranh chấp không thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp của ban trọng tài lao động thì tổ chức đại diện người lao động là bên tranh chấp có quyền tiến hành đình công theo trình tự, thủ tục luật định.
Như vậy, pháp luật quy định việc đình công chỉ được phép tiến hành đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và sau thời hạn luật định. Pháp luật đã quy định khoảng thời gian hợp lý để các bên có thể giải quyết tranh chấp lao động bằng phương pháp hòa giải nhằm hạn chế tối đa việc đình công gây ảnh hưởng đến quyền lợi của tập thể người lao động và người sử dụng lao động.
Bước 1: Chuẩn bị đình công
Theo quy định tại Bộ Luật lao động 2019, thủ tục chuẩn bị đình công bao gồm:
(i) Lấy ý kiến về đình công. Điều 201 Bộ Luật lao động 2019 quy định như sau:
- Trước khi tiến hành đình công, tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công quy định tại Điều 198 của Bộ luật này có trách nhiệm lấy ý kiến của toàn thể người lao động hoặc thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động tham gia thương lượng.
- Nội dung lấy ý kiến bao gồm:
+ Đồng ý hay không đồng ý đình công;
+ Phương án của tổ chức đại diện người lao động về nội dung quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 202 của Bộ luật này.
- Việc lấy ý kiến được thực hiện trực tiếp bằng hình thức lấy phiếu hoặc chữ ký hoặc hình thức khác.
- Thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành lấy ý kiến về đình công do tổ chức đại diện người lao động quyết định và phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 01 ngày. Việc lấy ý kiến không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động không được gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người lao động tiến hành lấy ý kiến về đình công.
(ii) Ra quyết định đình công và thông báo đình công.
- Ít nhất là 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu đình công, tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công phải gửi văn bản về việc quyết định đình công cho người sử dụng lao động, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Đến thời điểm bắt đầu đình công, nếu người sử dụng lao động vẫn không chấp nhận giải quyết yêu cầu của người lao động thì tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công.
Bước 2: Tiến hành đình công
Đến thời điểm bắt đầu đình công, nếu người sử dụng lao động vẫn không chấp nhận giải quyết yêu cầu của tập thể lao động thì tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công.
Như đã trình bày, ra quyết định đình công là một giai đoạn quan trọng trong quá trình chuẩn bị đình công. Quyết định đình công là hệ quả của hoạt động lấy ý kiến của người lao động hoặc các thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tham gia thương lượng tập thể (Tham khảo: Lấy ý kiến về đình công như thế nào?). Theo Khoản 1 Điều 202 Bộ luật lao động 2019, dựa trên nguyên tắc quyết định theo đa số, nếu trên 50% những người được lấy ý kiến đồng ý đình công thì tổ chức đại diện người lao động lấy ý kiến đình công (tức tổ chức đại diện người lao động có quyền tham gia thương lượng tập thể và là một bên tranh chấp trong quan hệ lao động) ban hành quyết định đình công. Quyết định này phải được ban hành bằng văn bản, đảm bảo công khai, minh bạch đối với tất cả các chủ thể bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Theo Khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động 2019, quyết định đình công bao gồm 05 nội dung cơ bản sau:
Như đã nêu trên, kết quả lấy ý kiến đình công là căn cứ để tổ chức đại diện người lao động (có quyền tham gia thương lượng tập thể và là một trong các bên trong tranh chấp lao động) ban hành quyết định đình công. Về nội dung này, phải nêu rõ số lượng, số phần trăm người lao động (hoặc thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tham gia thương lượng tập thể) đồng ý hoặc không đồng ý, dựa trên số liệu thu thập được từ hoạt động lấy ý kiến người lao động như số phiếu đồng ý, không đồng ý, số chữ ký đồng ý, số phản hồi email đồng ý,... Để đảm bảo tính xác thực, quyết định đình công nên kèm theo văn bản xác nhận hoạt động lấy ý kiến có các nội dung như thời gian, địa điểm lấy ý kiến, phương thức lấy ý kiến, số lượng người tham gia lấy ý kiến,...
Đây là một trong các nội dung của phương án đình công mà tổ chức đại diện người lao động phải xây dựng và lấy ý kiến của người lao động, do vậy cũng là một trong các nội dung của quyết định đình công. Thời điểm bắt đầu đình công và địa điểm đình công được lên kế hoạch bởi tổ chức đại diện người lao động và có sự đồng ý của đại đa số người lao động hoặc thành viên ban lãnh đạo tổ chức đại diện người lao động tham gia thương lượng, do vậy được coi là thời điểm và địa điểm hợp lý, phù hợp với hoạt động của những người tham gia đình công. Tuy nhiên, không có quy định về thời điểm kết thúc đình công, vì đình công với mục đích gây áp lực lên người sử dụng lao động khiến người sử dụng lao động phải giải quyết tranh chấp một cách thiện chí và lắng nghe yêu cầu của người lao động, nên không thể xác định thời điểm nào người sử dụng lao động bắt đầu có những động thái giải quyết tranh chấp với tổ chức đại diện người lao động.
Phạm vi tiến hành đình công cũng là một trong các nội dung lấy ý kiến của người lao động hoặc thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tham gia thương lượng tập thể, nên cũng là 01 nội dung quan trọng trong quyết định đình công. Phạm vi tiến hành đình công bao gồm phạm vi người đình công, phạm vi hành vi. Ví dụ:
- Người sử dụng lao động có nhiều người lao động làm trong các bộ phận khác nhau. Việc đình công có thể được thực hiện đối với một bộ phận nhất định người lao động tại nơi làm việc hoặc toàn bộ người lao động tại nơi làm việc.
- Trong thời gian đình công, ngoài ngừng việc, tổ chức đại diện người lao động có thể tổ chức một số hoạt động cho lao động nhằm tăng sức ép lên người sử dụng như tổ chức mít tinh, treo băng rôn khẩu hiệu tại nơi làm việc,...
Yêu cầu của người lao động là một trong các nội dung chính được lấy ý kiến, đây là yêu cầu của người lao động đối với người sử dụng lao động, là kim chỉ nang của hoạt động đình công. Nếu yêu cầu này được thực hiện thì đình công cũng chấm dứt. Nói cách khác, quyết định đình công phải nêu rõ mục đích, yêu cầu mà tổ chức đại diện người lao động cùng người lao động muốn đạt được từ hoạt động này. Vì vậy, đây là một nội dung không thể thiếu của quyết định đình công.
Những người này là những người đứng đầu tổ chức đại diện người lao động tổ chức đình công, tức họ là những người chịu trách nhiệm trực tiếp với hoạt động đình công này, và có trách nhiệm đảm bảo đình công một cách hợp pháp và thực hiện được các tiêu chí mà người lao động mong muốn. Nếu đình công không được tiến hành hợp pháp dẫn tới gây mất trật tự, an ninh xã hội, những người này cũng là những người phải chịu trách nhiệm trước pháp luật tùy theo mức độ vi phạm pháp luật, có thể bị xử lý vi phạm hành chính nhưng cũng có thể bị xử lý hình sự. Do vậy, thông tin cá nhân cơ bản của người đại diện cho tổ chức đại diện người lao động và lãnh đạo đình công phải được nêu trong quyết định đình công.
Như vậy quyết định đình công là một văn bản do tổ chức đại diện người lao động ban hành bao gồm các nội dung cơ bản về cuộc đình công sắp diễn ra, xác nhận với các chủ thể liên quan về việc thực hiện đình công theo trình tự và kế hoạch đề ra. Nếu không có sự thay đổi từ phía người sử dụng lao động, khi quyết định đình công này được ban hành, đình công là chắc chắn sẽ xảy ra.
Luật Hoàng Anh
Luật sư NGUYỄN ĐÌNH HIỆP - Những con số biết nói
Với 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn pháp lý, Luật sư Nguyễn Đình Hiệp có sự am hiểu sâu sắc hệ thống pháp luật Việt Nam và triển khai thành công rất nhiều các vụ việc như:
2
Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại
2
Tư vấn cấp Giấy phép viễn thông cho doanh nghiệp Việt Nam
8
Tư vấn pháp lý thường xuyên cho các doanh nghiệp Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc. Tiêu biểu như Công ty CP Tập đoàn Bình Minh, Công ty CP DV Viễn thông Hải Phòng
10
Tư vấn, xử lý thu hồi công nợ và khởi kiện/khởi tố các đối tượng có nợ khó đòi
10
Tư vấn pháp lý đầu tư, giấy phép, chuyển nhượng các dự án khoáng sản. Tiêu biểu như Dự án khai thác Khoáng sản của Công ty khoáng sản An Vượng tại huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình (50ha).
15
Tư vấn pháp lý dự án đầu tư mở rộng sản xuất. Tiêu biểu như Dự án sản xuất 50 triệu sản phẩm điện tử thanh toán Công ty TNHH ST Vina (Hàn Quốc); Dự án mở rộng quy mô sản xuất của Công ty TNHH RFTech Việt Nam lên 20 triệu đô la Mỹ;
20
Tư vấn hợp đồng chuyển giao công nghệ và thực hiện thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ (hầu hết là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
20
Tư vấn pháp lý dự án đầu tư bất động sản. Tiêu biểu như Dự án khu nghỉ dưỡng tại Vịnh Lan Hạ, thành phố Hải Phòng (30ha); Khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Avana Mai Chau Hideway, tỉnh Hòa Bình (32ha)
30
Tư vấn, thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các lĩnh vực. Tiêu biểu như Dự án nhà máy sản xuất của Công ty Mass Well Limited, Công ty Modern Shine Limited tại Trung tâm công nghiệp GNP Yên Bình
300
Tư vấn hồ sơ công bố sản phẩm, hồ sơ phòng cháy chữa cháy, hồ sơ an toàn vệ sinh thực phẩm, đăng ký mã số mã vạch, đăng ký/thông báo website…
500
Tư vấn bảo hộ nhãn hiệu (thương hiệu), quyền tác giả, sáng chế
700
Tư vấn, thực hiện các thủ tục, giấy phép con như: Giấy phép lao động cho người nước ngoài, cấp phép tạm trú cho người nước ngoài, Giấy phép trung tâm ngoại ngữ, Giấy phép ngành dược, Giấy phép quảng cáo…
2000
Tư vấn, thành lập các doanh nghiệp mới, chi nhánh, văn phòng đại diện trên cả nước; các thủ tục thay đổi đăng ký doanh nghiệp trên cả nước
3000
Tư vấn các vụ việc ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con; chia thừa kế; tranh chấp đất đai; tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính.
Để nhận tin tức và quà tặng từ Luật Hoàng Anh