Những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm?

Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 352 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) tuân thủ pháp luật về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được quy định như sau:

“Điều 352. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;

2. Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;

3. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;

4. Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.”

Quy định về những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó.

+ Bản án là một văn bản tố tụng do Thẩm phán, Hội thẩm nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành để ghi nhận phán quyết của Tòa án sau khi xét xử một vụ án.

+ Quyết định là văn bản được ban hành trong trường hợp công bố một sự kiện hoặc giải quyết một vấn đề, một yêu cầu cụ thể nào đó, quyết định mang tính cá biệt, chỉ áp dụng đối với một hoặc một số cá nhân hoặc trong một trường hợp cụ thể: Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định đình chỉ vụ án, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Quyết định tuyên bố 1 người mất tích, Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

Theo quy định tại Điều 352 BLTTDS 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

- Thứ nhất, mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án là trường hợp tình tiết có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc giải quyết đúng đắn vụ án tồn tại khách quan trong quá trình giải quyết vụ án nhưng đương sự không biết hoặc không thể biết trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể:

+ Tình tiết mới được phát hiện phải là tình tiết đã có vào lúc Tòa án giải quyết vụ án mà Tòa án và đương sự đã không thể biết được. Những tình tiết mới phát sinh sau khi Tòa án đã giải quyết vụ án thì không phải là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

+ Tình tiết mới được phát hiện phải là những tình tiết quan trọng liên quan đến vụ án,làm thay đổi hẳn nội dung vụ án, làm cho bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không hợp pháp không có căn cứ. Đối với những tình tiết tuy mới được phát hiện nhưng không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật giữa các đương sự, không có mối quan hệ nhân quả đối với quyết định của Tòa án tái thẩm thì cũng không là căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

+ Những tình tiết mới được phát hiện làm căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm phải là những tình tiết Tòa án muốn xác định được phải qua quá trình xem xét lại. Những tình tiết đã có sẵn trong hồ sơ vụ án. Tòa án không đánh giá sử dụng hoặc những tình tiết đa có vào lúc Tòa án giải quyết vụ án nhưng do sai lầm của Tòa án không phát hiện được, không yêu cầu đương sự cung cấp thì không được coi là tình tiết mới.

Ví dụ : Trong vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản, các đương sự có yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật vì lý do người để lại di sản thừa kế không có di chúc. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã giải quyết chia thừa kế theo pháp luật. Sau khi có bản án phúc thẩm, một trong số các đồng thừa kế mới phát hiện được di chúc của người để lại di sản định đoạt toàn bộ di sản cho họ nên đã có đơn đề nghị xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục tái thẩm. Trường hợp xác định bản di chúc đó là hợp pháp thì người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ quy định này để kháng nghị tái thẩm.

- Thứ hai, có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ là trường hợp người giám định đưa ra kết luận giám định không trung thực, không có căn cứ, không phản ánh đúng sự thật khách quan của đối tượng giám định; người phiên dịch đưa ra lời dịch không trung thực, không khách quan, không đúng nghĩa; tài liệu, chứng cứ mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án bị giả mạo.

+ Người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy định của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần giám định mà Tòa án trưng cầu giám định hoặc được đương sự yêu cầu giám định theo quy định tại Điều 102 của BLTTDS 2015.

+ Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Người phiên dịch được một bên đương sự lựa chọn hoặc các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án yêu cầu để phiên dịch.

Ví dụ : Trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bà A (bị đơn) cho rằng mình không vay tiền của bà B (nguyên đơn), không thừa nhận chữ ký trong hợp đồng vay tài sản do bà B xuất trình là của mình nên bà B yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký đứng tên bà A trong hợp đồng vay tài sản. Mặc dù có đủ cơ sở khẳng định chữ ký đứng tên bà A trong hợp đồng vay tài sản (mẫu vật giám định) và chữ ký của bà A trong các mẫu so sánh là do cùng một người ký ra, nhưng người giám định lại đưa ra kết luận giám định là chữ ký tên bà A trong hợp đồng vay tài sản và chữ ký của bà A trong các mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào kết luận giám định để bác yêu cầu khởi kiện của bà B. Sau khi có bản án phúc thẩm, tổ chức giám định tư pháp nơi người giám định làm việc phát hiện người giám định đã đưa ra kết luận giám định sai sự thật nên đã có văn bản thông báo, kèm theo tài liệu, chứng cứ về việc giám định sai sự thật của người giám định cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

- Thứ ba, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật là trường hợp Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm cho nội dung của hồ sơ sau khi làm sai lệch không còn phù hợp với nội dung hồ sơ ban đầu; các tình tiết, tài liệu, chứng cứ của vụ án đã rõ ràng nhưng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân vẫn cố ý đưa ra kết luận không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án.

- Thứ tư, Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ. Đối với căn cứ này có thể chia ra 2 trường hợp như sau:

+ Trường hợp 1: Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ là trường hợp bản án, quyết định của Tòa án giải quyết một vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà Tòa án căn cứ vào các tài liệu đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ trước hoặc trong quá trình giải quyết vụ án mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó.

Ví dụ: Ngày 01-01-2018, ông M bị Tòa án nhân dân quận A, thành phố B (nơi ông M cư trú cuối cùng) tuyên bố là đã chết. Ngày 01-7-2019, ông M trở về và yêu cầu Tòa án nhân dân quận A, thành phố B ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố ông M là đã chết. Ngày 01-8-2019, Tòa án nhân dân quận A, thành phố B đã ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố ông M là đã chết. Tuy nhiên, ngày 01-6-2019, anh N là con của ông M đã căn cứ quyết định tuyên bố ông M là đã chết để khởi kiện vụ án tranh chấp về di sản thừa kế tại Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Q, yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của ông M tại huyện P, tỉnh Q do chị H (là một trong số các đồng thừa kế) đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Do không biết được việc Tòa án nhân dân quận A, thành phố B đã ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố ông M là đã chết nên ngày 01-10-2019, Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Q đã ra bản án sơ thẩm giải quyết vụ án tranh chấp về di sản thừa kế, chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông M cho anh N và chị H. Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị. Sau khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, ông M có đơn đề nghị xét lại bản án này theo thủ tục tái thẩm. Trường hợp này, căn cứ kháng nghị tái thẩm là quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.

+ Trường hợp 2: Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ là trường hợp bản án, quyết định của Tòa án giải quyết một vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà Tòa án căn cứ vào các tài liệu đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ trước, trong hoặc sau khi giải quyết vụ án.

Ví dụ: Tòa án nhân dân quận X xét xử A về tội cố ý gây thương tích và tách phần bồi thường thiệt hại để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác. Bản án hình sự có hiệu lực pháp luật. Sau đó, B là bị hại trong vụ án hình sự khởi kiện yêu cầu A bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Tòa án căn cứ vào bản án hình sự buộc A phải bồi thường thiệt hại cho B là 100.000.000 đồng. Bản án dân sự có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên sau đó bản án hình sự đã bị Tòa án xét xử giám đốc thẩm hủy để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm xét xử lại vụ án đã tuyên A không có tội. Do đó, bản án hình sự bị hủy theo quyết định giám đốc thẩm là căn cứ kháng nghị tái thẩm đối với bản án dân sự sơ thẩm.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Luật Hoàng Anh

CAM KẾT DỊCH VỤ
  • Đồng hành cùng Thân chủ.
  • Phương án tốt, giải pháp hay.
  • Bảo mật - Uy tín - Tin cậy - Chi phí thấp - Hiệu quả cao.
  • Dịch vụ pháp lý tốt số 2 tại Việt Nam.
  • Cam kết HOÀN TIỀN nếu thực hiện dịch vụ không thành công.

Cảm ơn quý vị và các bạn đã tin tưởng Luật Hoàng Anh, nếu có thắc mắc muốn giải đáp hãy liên hệ ngay cho chúng tôi.

Tổng đài tư vấn pháp luật

Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Dịch vụ Luật Sư uy tín hàng đầu tại Hà Nội.

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

Email: luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Pháp luật hiện hành quy định về thời hạn hoãn phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa như thế nào?

Tố tụng 27/11/2021

Bài viết trình bày về thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa.

Thay đổi địa vị tố tụng khi nào?

Tố tụng 29/11/2021

Bài viết trình bày về nội dung thay đổi địa vị tố tụng trong hoạt động tố tụng.

Pháp luật hiện hành quy định về việc xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu như thế nào?

Tố tụng 29/11/2021

Bài viết trình bày về việc xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu.

Quy trình thủ tục hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện?

Tố tụng 29/11/2021

Bài viết trình bày về việc hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu.

Tại sao phải bảo đảm tính khách quan của người làm chứng?

Tố tụng 29/11/2021

Bài viết trình bày về bảo đảm tính khách quan của người làm chứng.

Quy định của pháp luật về việc xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt tại phiên tòa xét xử?

Tố tụng 29/11/2021

Bài viết trình bày về xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt.

Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch?

Tố tụng 29/11/2021

Bài viết trình bày về việc giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.