Điều kiện bảo hộ sáng chế được pháp luật quy định như thế nào?

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Sáng chế được bảo hộ độc quyền dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích. Vậy điều kiện để được bảo hộ sáng chế được pháp luật quy định như thế nào. Sau đây chúng tôi-Luật Hoàng Anh xin được trình bày về hai điều kiện bảo hộ sáng chế như sau:

1. Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ

Khoản 1 Điều 58 Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định về điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ như sau:

“Điều 58. Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ

1. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới;

b) Có trình độ sáng tạo;

c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.”

Sáng chế ngoài việc được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế thì còn được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích. Khoản 2 Điều 58 Luật sở hữu trí tuệ quy định:

“2. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới;

b) Có khả năng áp dụng công nghiệp.”

Các điều kiện bảo hộ với sáng chế được quy định cụ thể như sau:

a. Sáng chế có tính mới

Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.

Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.

Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được người có quyền đăng ký của Luật này hoặc người có được thông tin về sáng chế một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp tại Việt Nam trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày bộc lộ. (1)

+ Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ;

+ Sáng chế được người có quyền đăng ký theo quy định công bố dưới dạng báo cáo khoa học;

+ Sáng chế được người có quyền đăng ký trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.

Quy định tại (1) cũng áp dụng đối với sáng chế được bộc lộ trong đơn đăng ký sở hữu công nghiệp hoặc văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp công bố trong trường hợp việc công bố không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc đơn do người không có quyền đăng ký nộp (2)

b. Trình độ sáng tạo của sáng chế

Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

Giải pháp kỹ thuật là sáng chế được bộc lộ theo quy định tại (1), (2) không được lấy làm cơ sở để đánh giá trình độ sáng tạo của sáng chế đó.

c. Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế

Theo Điều 62 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định:

“Điều 62. Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế

Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định”

2. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế

+ Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;

+ Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;

+ Cách thức thể hiện thông tin;

+ Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;

+ Giống thực vật, giống động vật;

+ Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;

+ Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Luật sở hữu trí tuệ.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Các điều ước quốc tế có liên quan đến bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nghệ thuật

Tư vấn Sở hữu trí tuệ 04/05/2021

Các quy định của pháp luật quốc tế về việc bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm nghệ thuật

Thủ tục áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan được quy định như thế nào?

Tư vấn Sở hữu trí tuệ 20/07/2021

Bài viết trình bày về thủ tục áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan

Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm phạt vi phạm hành chính được quy định như thế nào?

Tư vấn Sở hữu trí tuệ 20/07/2021

Bày viết trình bày về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm phạt vi phạm hành chính

Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự như thế nào?

Tư vấn Sở hữu trí tuệ 20/07/2021

Bài viết về xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự