Nội dung quyền liên quan

Luật sở hữu trí tuệ không chỉ quy định bảo hộ quyền tác giả mà còn quy định bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi là quyền liên quan). Quyền liên quan là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Vậy nội dung của các quyền liên quan này được pháp luật về sở hữu trí tuệ quy định như thế nào? Sau đây Luật Hoàng Anh xin được tư vấn về vấn đề này.

1. Quyền của người biểu diễn

Việc sử dụng tác phẩm thông qua hình thức biểu diễn luôn đòi hỏi sự sáng tạo của người biểu diễn, cái hay, cái đẹp của các tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật phải thông quan biểu diễn và tác phẩm đó được công chúng cảm nhận ở mức phần nhiều phụ thuộc vào tài năng và sự sáng tạo trong quá trình truyền tải của người biểu diễn. Vì vậy, tùy theo từng phương diện nhất định, hình thức nghệ thuật mà họ thể hiện để biểu diễn tác phẩm mang dấu ấn cá nhân theo phong cách sáng tạo nên họ có quyền được hưởng các quyền lợi theo đó. 

Theo Điều 29 Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định quyền của người biểu diễn bao gồm:

+ Quyền sao chép trực tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình theo là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra các bản sao khác từ bản ghi âm, ghi hình đó.

+ Quyền sao chép gián tiếp cuộc biểu diễn đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra các bản sao khác không từ bản ghi âm, ghi hình đó như việc sao chép từ chương trình phát sóng, mạng thông tin điện tử, viễn thông và các hình thức tương tự khác.

+ Quyền truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình là quyền của chủ sở hữu cuộc biểu diễn độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc phổ biến cuộc biểu diễn chưa được định hình đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào ngoài phát sóng

2. Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình

Theo Điều 30 Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 được sửa đổi bởi Khoản 9 Điều 1 Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 quy định về quyền của nhà xuất bản ghi âm, ghi hình:

Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:

+ Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình: Sao chép cuộc biểu diễn là việc tạo ra các bản ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn. Trong đó, được coi là sao chép trực tiếp nếu bản sao ghi âm, ghi hình được tạo ra từ bản định hình lần đầu tiên về âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn (còn gọi là bang gốc, đĩa gốc), được coi là sao chép gián tiếp nếu bản sao ghi âm, ghi hình không được tạo ra từ chính bản ghi âm, ghi hình gốc.

+ Nhập khẩu, phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình thông qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được: Khi xác định người biểu diễn được hưởng các quyền nào trong các quyền nói trên cần căn cứ vào tư cách chủ thể của họ đối với cuộc biểu diễn. Ngoài các quyền nhân thân, người biểu diễn được hưởng một khoản tiền thù lao khi người khác sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại. Việc hưởng thù lao của người biểu diễn trong các trường hợp này tùy thuộc vào thỏa thuận giữa người biểu diễn với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình khi thực hiện chương trình ghi âm, ghi hình.

+ Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của mình được phân phối đến công chúng.

Theo Khoản 3 Điều 33 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan hướng dẫn sử dụng chương trình phát sóng như sau: Tổ chức, cá nhân sử dụng chương trình phát sóng của tổ chức phát sóng khác để tái phát sóng hoặc truyền trên mạng viễn thông, thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào thực hiện theo thỏa thuận và các quy định pháp luật liên quan. Việc sửa đổi, cắt xén, bổ sung chương trình phát sóng của tổ chức phát sóng khác để tái phát sóng hoặc truyền trên mạng viễn thông, thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác phải có sự thỏa thuận với chủ sở hữu chương trình phát sóng.

3. Quyền của tổ chức phát sóng

Theo Điều 31 Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định quyền của tổ chức phát sóng như sau:

+ Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình

+ Phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của mình;

+ Định hình chương trình phát sóng của mình;

+ Sao chép bản định hình chương trình phát sóng của mình.

Tổ chức phát sóng được hưởng quyền lợi vật chất khi chương trình phát sóng của mình được ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng.

Hoạt động của các tổ chức này là việc sử dụng tác phẩm, chương trình biểu diễn của người khác để truyền tải đến công chúng nên khi sử dụng tác phẩm, chương trình biểu diễn để phát sóng các tổ chức này phảo đảm bảo các quyền lợi nhân thân cũng như lợi ích vật chất cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm hoặc của người biểu diễn và chủ sở hữu quyền liên quan đến cuộc biểu diên.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Luật sở hữu trí tuệ.

Luật Hoàng Anh

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Đặc điểm của quyền tác giả

Tư vấn Sở hữu trí tuệ 27/04/2021

Quyền tác giả là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ, do vậy, nó có đầy đủ các đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ. Quyền tác giả còn có những đặc điểm riêng biệt của nó, vậy những đặc điểm riêng biệt đó là gì, mời bạn đọc cùng Luật Hoàng Anh tìm hiểu rõ

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Tư vấn Sở hữu trí tuệ 27/04/2021

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả là khoảng thời gian do pháp luật quy định, trong đó các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người thừa kế quyền tác giả được Nhà nước bảo hộ. Vậy theo pháp luật Việt Nam, thời hạn bảo hộ quyền tác giả được quy định n