Quy định của pháp luật về quyền sử dụng sáng chế bị chuyển giao theo quyết định bắt buộc như thế nào?

Thứ sáu, 12/05/2023, 13:45:23 (GMT+7)

Bài viết dưới đây trình bày về quy định của pháp luật về quyền sử dụng sáng chế bị chuyển giao theo quyết định bắt buộc

MỤC LỤC

MỤC LỤC

Trên thực tế, trong một số trường hợp nhất định, quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế hay nói cách khác là bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế. Vậy pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành quy định thế nào về nội dung này? Hãy cùng Luật Hoàng Anh tìm hiểu qua các nội dung tiếp theo của bài viết.

Căn cứ pháp lý

-  Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội (Luật Sở hữu trí tuệ 2005);

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội (Luật Sở hữu trí tuệ 2022);

Sáng chế là gì?

Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về sáng chế như sau: "Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên."

Theo đó, đối tượng bảo hộ sáng chế nhất thiết phải là một sản phẩm hoặc quy trình mới, do đó, một công dụng mới hay cách thức sử dụng mới của một sản phẩm được biết đến sẽ không đáp ứng điều kiện bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế. Một yêu cầu đối với sáng chế là giải pháp kỹ thuật đó là sáng chế phải giải quyết được một vấn đề kĩ thuật cụ thể bằng việc áp dụng các quy luật tự nhiên. Quy luật tự nhiên là những quy luật khoa học của tự nhiên được khám phá thông qua thực nghiệm. Những ý tưởng hoặc ý đồ chỉ nêu vấn đề mà không đưa ra cách giải quyết không phải là vẫn đề kĩ thuật hoặc không được giải quyết bằng cách thức kĩ thuật thì cũng không được coi là sáng chế. Những giải pháp không sử dụng các quy luật của tự nhiên mà áp dụng quy luật kinh tế, quy luật kinh doanh ...không phải là đối tượng được bảo hộ sáng chế.

Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế

Căn cứ theo quy định tại Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ thì sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây: Có tính mới; Có khả năng áp dụng công nghiệp.

- Thứ nhất, Tính mới của sáng chế: Khoản 19 Điều 1 Luật sở hữu trí tuệ 2022 sửa đổi bổ sung khoản 1 Điều 60 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định: Sáng chế được coi là có tính mới nếu không thuộc một trong các trường hợp: bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên hoặc bị bộc lộ trong đơn đăng ký sáng chế khác có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn nhưng được công bố vào hoặc sau ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế đó. 

- Thứ hai, trình độ sáng tạo của sáng chế: Đây là điều kiện có tính kiên quyết để xem xét sáng chế có được bảo hộ hay không. Điều 61 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 2 Luật sở hữu trí tuệ 2019 quy định sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.

- Thứ ba, có khả năng áp dụng công nghiệp: Đây có thể coi là điều kiện về tính hữu ích của sáng chế. Sáng chế không chỉ mang tính lý thuyết mà còn phải mang lại những lợi ích thực tiễn nhằm phục vụ những nhu cầu của cuộc sống. Áp dụng công nghiệp sáng chế là việc sản xuất, chế tạo  hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định. 

Đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế

Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định các đối tượng không được bảo hộ sáng chế bao gồm:

-  Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học. Bởi các phát minh hay định luật hông tạo ra cái mới để phục vụ trực tiếp cho đời sống mà chỉ là phương tiện để con người dựa vào đó tạo ra các sản phẩm, giải pháp phục vụ các nhu cầu của cuộc sống. 

- Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; cách thức thể hiện thông tin; chương trình máy tính. Đây là những đối tượng mang tính chất tư duy của các nhân, các phương pháp thực hiện hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thường không áp dụng các quy luật tự nhiên, không thể thực hiện việc sản xuất, chế tọa hàng hoạt hoặc áp dụng lặp đi lặp lại và thu được kết quả ổn định. Do đó, những đối tượng này không đáp ứng điều kiện để được bảo hộ là sáng chế. Chương trình máy tính theo pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành được bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả.

- Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ: Những giải pháp mặc dù được sử dụng cho mục đích công nghiệp bằng gắn gắn nó với những sản phẩm được sản xuất hàng loại nhưng nếu chỉ mang tính thẩm mĩ đơn thuẩn, không thực hiện được chức năng kĩ thuật, sẽ không được bảo hộ là sáng chế mà thông thường được bảo hộ là kiểu dáng công nghiệp hoặc bảo hộ theo cơ chế quyền tác giả.

- Giống thực vật, giống động vật; quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh. Các đối tượng này không được bảo hộ là sáng chế xuất phát từ việc abro vệ trật tự công cộng và đạo đức xã hội. 

- Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật. Việc bảo hộ độc quyền sáng chế cho các phương pháp phòng ngừa, chuẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật sẽ cản trở khả năng tiếp cận các phương pháp phòng chống, chữa bệnh cho con người và động vật. Vì vậy pháp luật của nhiều quốc gia quy định các phương pháp này không được bảo hộ độc quyền sáng chế.

Căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế

Theo Điều 145 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 56 Điều 1 của Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định về căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế như sau:

- Trong các trường hợp sau đây, quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Luật này mà không cần được sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế:

+ Thứ nhất, Việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho Nhân dân hoặc đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội. Việc bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trong trường hợp này có một số đặc trưng sau:

(i) Mục đích chuyển giao chỉ nhằm mục đích công cộng, thi thường mại. Trong trường hợp này, lợi ích cộng đồng được đặt lên lợi ích cá nhân.

(ii) Người có yêu cầu bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế không cần phải thương lượng với người nằm độc quyên sáng chế.

(iii) Chủ thể yêu cầu có thể là cơ quan chính phủ, bên thứ ba do Chính phủ chỉ định hoặc một bên thức ba bất kỳ. 

+ Thứ hai, người nắm độc quyền sử dụng sáng chế không thực hiện nghĩa vụ sử dụng sáng chế quy định tại khoản 1 Điều 136 và khoản 5 Điều 142 của Luật này sau khi kết thúc bốn năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký sáng chế và kết thúc ba năm kể từ ngày cấp Bằng độc quyền sáng chế. Sử dụng sáng chế vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của chủ sở hữu sáng chế. Đây là nghĩa vụ của chủ ở hữu sáng chế bởi phải sử dụng sáng chế nhằm phát triển các ngành công nghiệp quốc gia, phổ biến công nghệ để phục vụ lợi ích chung của xã hội. Việc yêu cầu chủ sở hữu sử dụng còn nhằm mục đích ngăn chặn đối thủ cạnh tranh tiếp cận với các giải pháp kĩ thuật được bảo hộ nhằm tăng vị thế độc quyền của chủ sở hữu trên thị trường. Tuy nhiên theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế chỉ được áp dụng khi người nắm độc quyền sáng chế vi phạm nghĩa vụ sử dụng sáng chế, cụ thể không sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc quy trình được bảo hộ sáng chế để đáp ứng các nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác. Như vậy, người nắm độc quyền sáng chế chỉ bị coi là vi phạm nghĩa vụ sử dụng sáng chế khi việc không sử dụng sáng chế ảnh hưởng tới lợi ích  của xã hội, lợi ích của nhà nước. Pháp luật cũng quy định một khoảng thời gian hợp lý để chủ sở hữu sáng chế có thời gian chuẩn bị các điều kiện cần thiết về kĩ thuật, tài chính, công nghệ.... để thực hiện nghĩa vụ sử dụng sáng chế đã được cấp văn bằng bảo hộ.

+ Thứ ba, người có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt được thỏa thuận với người nắm độc quyền sử dụng sáng chế về việc ký kết hợp đồng sử dụng sáng chế mặc dù trong một thời gian hợp lý đã cố gắng thương lượng với mức giá và các điều kiện thương mại thỏa đáng. Quy định này nhằm hạn chế sự lạm dụng độc quuyeefn của chủ sở hữu sáng chế, đồng thời hướng tới mục tiêu phổ biến các tri thức để phục vụ cho các lợi ích xã hội.

+ Thứ tư, người nắm độc quyền sử dụng sáng chế bị coi là thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh. Vi dụ: chủ sở hữu sáng chế lạm dụng vị thế độc quyền của mình trong việc sử dụng, khai thác sáng chế để hạn chế sản xuất, phân phối sản phẩm, áp đặt giá mua, bán sản phẩm có áp dụng sáng chế một cách bất hợp lý...

+ Thứ năm, Việc sử dụng sáng chế nhằm đáp ứng nhu cầu về dược phẩm để phòng bệnh, chữa bệnh của quốc gia khác có đủ điều kiện nhập khẩu theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Đây là quy định mới được bổ sung tại Luật Sở hữu trí tuệ 2022.

Cụ thể, trong lĩnh vực dược phẩm, nhiều nước thành viên WTO là các nước đang và chậm phát triển đã gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai các chính sách về bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là việc tiếp cận các nguồn dược phẩm thiết yếu cho người dân. Nguyên nhân là do chưa có cơ chế linh hoạt trong Hiệp định TRIPS về bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Cụ thể, một trong những điều kiện của cơ chế sử dụng sáng chế không cần sự cho phép của chủ bằng sáng chế (hay còn gọi là cơ chế chuyển giao quyền sử dụng theo quyết định bắt buộc) là quyền sử dụng chỉ được cấp phép chủ yếu để cung cấp cho thị trường trong nước (Điều 31(f) Hiệp định TRIPS). Hệ quả là, khi một nước thành viên muốn sử dụng cơ chế này trong trường hợp cần một loại thuốc nhất định để ngăn chặn nguy cơ bệnh dịch, nhưng ngành công nghiệp dược của nước thành viên đó lại không đủ năng lực để sản xuất loại thuốc đó, thì nước thành viên đó không thể yêu cầu các nước thành viên khác sản xuất được. Để giải quyết khó khăn trên, Điều 31bis Nghị định thư sửa đổi TRIPS đã thiết lập cơ chế cho phép các nước thành viên ra quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với một sáng chế dược phẩm mà không cần tuân thủ quy định của Điều 31(f) Hiệp định TRIPS. Điều này được hiểu rằng, việc cung cấp dược phẩm sản xuất theo quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế không chỉ giới hạn ở thị trường nội địa của quốc gia thành viên đó, mà còn cho phép xuất khẩu các loại thuốc generic. Ngoài ra, Phụ lục của Nghị định thư sửa đổi TRIPS cũng bổ sung các thuật ngữ như dược phẩm, thành viên nhập khẩu đủ tư cách, thành viên xuất khẩu, v.v. để thuận tiện cho việc áp dụng đối với các quốc gia.
Ngày 16/01/2017, Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư sửa đổi TRIPS. Đồng thời, chính phủ Việt Nam cũng tuyên bố sử dụng cơ chế được quy định tại Điều 31bis của Nghị định thư sửa đổi TRIPS với tư cách là nước nhập khẩu dược phẩm.
Theo đó, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 đã bổ sung căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế để đáp ứng nhu cầu của nước nhập khẩu đủ điều kiện theo quy định của Hiệp định TRIPS.

- Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế có quyền yêu cầu chấm dứt quyền sử dụng khi căn cứ chuyển giao quy định tại khoản 1 Điều này không còn tồn tại và không có khả năng tái xuất hiện với điều kiện việc chấm dứt quyền sử dụng đó không gây thiệt hại cho người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế. 

Điều kiện hạn chế quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc

Căn cứ theo quy định tại Điều 146 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung tại điểm a, b khoản 57 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định như sau:

- Quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải phù hợp với các điều kiện sau đây:

+ Thứ nhất, Quyền sử dụng được chuyển giao thuộc dạng không độc quyền. Mục đích của việc li-xăng bắt buộc không phải để tước đoạt hay hạn chế các độc quyền của người nắm giữ quyền đối với sáng chế mà để đảm bảo sự cân bằng giữa quyền và lợi ích của chủ sở hữu sáng chế và lợi ích của nhà nước, xã hội, cộng đồng. Do đó, trong trường hợp bắt buộc chuyển sáng chế, chủ sở hữu bằng độc quyền hoặc người đang được cấp li-xăng độc quyền sáng chế vẫn đồng thời được khai thác, sử dụng sáng chế. 

+ Thứ hai, quyền sử dụng được chuyển giao chỉ được giới hạn trong phạm vi và thời hạn đủ để đáp ứng mục tiêu chuyển giao, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 145 của Luật này. Đối với sáng chế trong lĩnh vực công nghệ bán dẫn thì việc chuyển giao quyền sử dụng chỉ nhằm mục đích công cộng, phi thương mại hoặc nhằm xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh. Điều kiện này được đặt ra nhằm đảm bảo quyền lợi của người nắm giữ độc quyền sáng chế, ngăn ngừa việc lạm dụng cấp li-xăng không tự nguyện cho các mục đích khác ngoài những mục đích hợp lí theo luật định. So với quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005, quy định mới tại Luật Sở hữu trí tuệ 2022 đã bỏ cụm từ "chủ yếu để cung cấp cho thị trường trong nước" để tách điều kiện này thành một khoản riêng, bảo đảm tính bao quát hơn.

+Thứ ba, người được chuyển giao quyền sử dụng không được chuyển nhượng quyền đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển nhượng cùng với cơ sở kinh doanh của mình và không được chuyển giao quyền sử dụng thứ cấp cho người khác. Mục đích của quy định này nhằm ngăn chặn sự phát triển của thị trường li-xăng cưỡng bức vì các mục tiêu lợi nhuận.  

+ Thứ tư, người được chuyển giao quyền sử dụng phải trả cho người nắm độc quyền sử dụng sáng chế khoản tiền đền bù theo thỏa thuận, trường hợp không đạt được thỏa thuận thì thực hiện theo quy định của Chính phủ, trừ trường hợp quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc để nhập khẩu dược phẩm theo cơ chế của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và khoản tiền đền bù cho việc sử dụng sáng chế được chuyển giao theo quyết định bắt buộc đã được trả tại nước xuất khẩu. Quy định này bảm đảm quyền lợi cho người nắm độc quyền sáng chế khi họ vẫn được trả một bức đền bù thích hợp và Luật Sở hữu trí tuệ 2022 cho phép các bên tự do thỏa thuận giá chuyển giao quyền sử dụng, trường hợp không thỏa thuận được thì mới thực hiện theo quy định của Chính phủ. 

Thứ năm, Quyền sử dụng được chuyển giao chủ yếu để cung cấp cho thị trường trong nước, trừ trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 145 của Luật này. Theo đó, việc bắt buộc chuyển giao sáng chế phải được ưu tiên phục vụ các nhu cầu đối với thị trường trong nước trừ 02  trường hợp sau:

(i) Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế bị coi là thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh;

(ii) Việc sử dụng sáng chế nhằm đáp ứng nhu cầu về dược phẩm để phòng bệnh, chữa bệnh của quốc gia khác có đủ điều kiện nhập khẩu theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, quyền sử dụng sáng chế được chuyển giao trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 137 của Luật này còn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

+ Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế cơ bản cũng được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế phụ thuộc với những điều kiện hợp lý;

+ Người được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cơ bản không được chuyển nhượng quyền đó, trừ trường hợp chuyển nhượng cùng với toàn bộ quyền đối với sáng chế phụ thuộc.  

Thẩm quyền và thủ tục chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc

Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bố sung tại khoản 58 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định về thẩm quyền và thủ tục chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quyết định bắt buộc như sau:

- Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trên cơ sở xem xét yêu cầu được chuyển giao quyền sử dụng đối với trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 145 của Luật này.

Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của mình trong trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 145 của Luật này trên cơ sở tham khảo ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ. 

- Quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế phải ấn định phạm vi và các điều kiện sử dụng phù hợp với quy định tại Điều 146 của Luật này.  

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế phải thông báo ngay cho người nắm độc quyền sử dụng sáng chế về quyết định đó.

- Quyết định chuyển giao quyền sử dụng sáng chế hoặc từ chối chuyển giao quyền sử dụng sáng chế có thể bị khiếu nại, bị khởi kiện theo quy định của pháp luật. 

Theo quy định này, việc xác định cơ quan có thẩm quyền xem xét và ra quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế dựa trên 02 nhóm căn cứ: (i) Nếu yêu cầu được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế vì mục đích công cộng, phi thương mại thì cơ quan có thẩm quyền là cơ quan bộ, ngành thuộc lĩnh vực quản lí nhà nước. Ví dụ: nếu vì mục đích phòng ngừa dịch bệnh cần quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế liên quan đến dược phẩm thì cơ quan có thẩm quyền xem xét có thể là Bộ Y tế;

(ii) Nếu yêu cầu được chuyển giao quyền sử dụng sáng chế xuất phát từ những lí do khác thì cơ quan có thẩm quyền xem xét là Bộ Khoa học và Công nghệ.

Xem thêm: Tổng hợp các bài viết của Luật sở hữu trí tuệ.

Luật Hoàng Anh

Luật Sư Phạm Thị Thu Hà

Chuyên viên pháp lý Trịnh Thị Chình

Luật Sư Nguyễn Thị Ngàn

Luật Sư Vũ Khánh Hiếu

Luật Sư Nguyễn Thùy Dung

Thạc sĩ kinh tế Nguyễn Mai Hương

Luật Sư Lê Tiến Thành

Chuyên viên pháp lý Nguyễn Thị Diệu Quỳnh

Chuyên viên pháp lý Nguyễn Thị Thu Hiền

Luật Sư Đào Hồng Sơn

Luật sư NGUYỄN ĐÌNH HIỆP - Những con số biết nói

Với 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn pháp lý, Luật sư Nguyễn Đình Hiệp có sự am hiểu sâu sắc hệ thống pháp luật Việt Nam và triển khai thành công rất nhiều các vụ việc như:

2

Tư vấn mở chuỗi kinh doanh nhượng quyền thương mại

2

Tư vấn cấp Giấy phép viễn thông cho doanh nghiệp Việt Nam

8

Tư vấn pháp lý thường xuyên cho các doanh nghiệp Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc. Tiêu biểu như Công ty CP Tập đoàn Bình Minh, Công ty CP DV Viễn thông Hải Phòng

10

Tư vấn, xử lý thu hồi công nợ và khởi kiện/khởi tố các đối tượng có nợ khó đòi

10

Tư vấn pháp lý đầu tư, giấy phép, chuyển nhượng các dự án khoáng sản. Tiêu biểu như Dự án khai thác Khoáng sản của Công ty khoáng sản An Vượng tại huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình (50ha).

15

Tư vấn pháp lý dự án đầu tư mở rộng sản xuất. Tiêu biểu như Dự án sản xuất 50 triệu sản phẩm điện tử thanh toán Công ty TNHH ST Vina (Hàn Quốc); Dự án mở rộng quy mô sản xuất của Công ty TNHH RFTech Việt Nam lên 20 triệu đô la Mỹ;

20

Tư vấn hợp đồng chuyển giao công nghệ và thực hiện thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ (hầu hết là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)

20

Tư vấn pháp lý dự án đầu tư bất động sản. Tiêu biểu như Dự án khu nghỉ dưỡng tại Vịnh Lan Hạ, thành phố Hải Phòng (30ha); Khu du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Avana Mai Chau Hideway, tỉnh Hòa Bình (32ha)

30

Tư vấn, thành lập các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các lĩnh vực. Tiêu biểu như Dự án nhà máy sản xuất của Công ty Mass Well Limited, Công ty Modern Shine Limited tại Trung tâm công nghiệp GNP Yên Bình

300

Tư vấn hồ sơ công bố sản phẩm, hồ sơ phòng cháy chữa cháy, hồ sơ an toàn vệ sinh thực phẩm, đăng ký mã số mã vạch, đăng ký/thông báo website…

500

Tư vấn bảo hộ nhãn hiệu (thương hiệu), quyền tác giả, sáng chế

700

Tư vấn, thực hiện các thủ tục, giấy phép con như: Giấy phép lao động cho người nước ngoài, cấp phép tạm trú cho người nước ngoài, Giấy phép trung tâm ngoại ngữ, Giấy phép ngành dược, Giấy phép quảng cáo…

2000

Tư vấn, thành lập các doanh nghiệp mới, chi nhánh, văn phòng đại diện trên cả nước; các thủ tục thay đổi đăng ký doanh nghiệp trên cả nước

3000

Tư vấn các vụ việc ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con; chia thừa kế; tranh chấp đất đai; tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính.

Dịch vụ pháp lý

Để nhận tin tức và quà tặng từ Luật Hoàng Anh

Đăng ký email

Số điện thoại nhận tin

© Bản quyền thuộc về -Luật Hoàng Anh- Mọi sự sao chép phải được sự chấp thuận của Luật Hoàng Anh bằng văn bản.
Lên đầu trang zalo.png messenger.png 0908 308 123
Tư vấn miễn phí ngay Chat với luật sư