Trường hợp nào người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động?

Các trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bao gồm cả chế độ đối với người lao động bị tai nạn lao động. Tuy nhiên không phải tất cả trường hợp người lao động bị tai nạn lao động cũng được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động. Vậy trường hợp nào người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động? Sau đây Luật Hoàng Anh xin trình bày về vấn đề này.

Theo Điều 40 Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 25/06/2015 có 03 trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động, bao gồm:

1. Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động

Trong trường hợp này, cần xác định rõ nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn lao động không phải là hoạt động thực hiện công việc, nhiệm vụ của người lao động đối với người sử dụng lao động mà là các hành vi xuất phát từ mâu thuẫn của người lao động và người sử dụng lao động. Các hành vi này rất đa dạng, có thể xảy ra khi người lao động và người sử dụng lao động (đại diện người sử dụng lao động) xảy ra xích mích tại nơi làm việc, nhưng cũng có thể xảy ra khi người lao động đang tìm cách phá hoại vật tư, tài sản của người lao động,… Đồng thời, lỗi chủ quan tạo nên tai nạn cũng có thể không phải do người lao động, mà có thể do phía người sử dụng lao động. Nhưng xét cho cùng, dù người lao động có gặp tai nạn tại nơi làm việc, người lao động vẫn không gặp tai nạn trong quá trình lao động nên không thể coi là tai nạn lao động. Và đã không phải là tai nạn lao động thì người lao động không thể hưởng chế độ tai nạn lao động dựa trên vụ tai nạn đó được.

Ví dụ: Người lao động và người quản lý xưởng (đại diện cho người lao động quản lý xưởng) xảy ra cãi cọ, xích mích vì quyền lợi của người lao động, trong lúc này, người quản lý xưởng đẩy người lao động ngã gãy tay. Trường hợp này dù lỗi của người quản lý xưởng, nhưng lỗi này xuất phát từ cá nhân người quản lý xưởng chứ không phải người sử dụng lao động, mà người lao động cũng bị tai nạn khi không thực hiện công việc mà trong quá trình cãi nhau với người quản lý, đây cũng có thể coi là hành vi gây mất an ninh, trật tự tại nơi làm việc. Do đó, người lao động không được hưởng chế độ tai nạn lao động từ người sử dụng lao động.

2. Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân

Đây là trường hợp người lao động bị tai nạn trong quá trình lao động nhưng lỗi hoàn toàn do người lao động. Lý do người lao động tự hủy hoại sức khỏe mình thông qua vụ tai nạn tại nơi làm việc, trong thời gian thực hiện công việc, cũng rất đa dạng. Người lao động có thể cố ý hủy hoại sức khỏe của mình để được hưởng các chế độ tai nạn lao động từ người sử dụng lao động, các quỹ bảo hiểm, hoặc đơn giản do muốn trả thù, gây khó khăn cho người sử dụng lao động, và nhiều lý do khác. Tuy nhiên, bản chất chế độ tai nạn mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động là nhằm đảm bảo người lao động được giảm thiểu rủi ro sau tai nạn do thực hiện công việc. Nguyên nhân “tai nạn” của người lao động trong trường hợp này là do người lao động cố ý gây ra, nên không thể coi các trường hợp này là tai nạn, và cũng không là tai nạn do thực hiện công việc (tức không phải tai nạn lao động theo định nghĩa tại Khoản 8 Điều 3 Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 25/06/2015).

Ví dụ: Người lao động A nợ cờ bạc dẫn, khiến người lao động này có ý định tự tạo tai nạn lao động để nhận chế độ tai nạn lao động từ người sử dụng lao động và các quỹ bảo hiểm, và thực hiện hành vi tự sử dụng máy cắt vào tay mình dẫn đến chảy máu và tổn thương nặng ở tay. Trong trường hợp này, khi điều tra ra người lao động tự cắt vào tay mình, thì người sử dụng lao động không có trách nhiệm cung cấp chế độ tai nạn lao động cho người lao động A.

3. Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật

Các chất ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật được quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ, bao gồm 04 danh mục:

Danh mục I: Các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.

Danh mục II: Các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Danh mục III: Các chất ma túy được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Danh mục IV: Các tiền chất (trừ các tiền chất được cấp phép sử dụng vì mục đích quốc phòng, an ninh).

Người sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác mất khả năng làm chủ và điều khiển hành vi trong một quãng thời gian nhất định do ảnh hưởng của ma túy, chất gây nghiện khác lên hệ thần kinh, vì thế trong quãng thời gian này rất dễ xảy ra các tai nạn. Tuy nhiên, sử dụng ma túy, chất gây nghiện là hành vi bị nghiêm cấm bởi pháp luật và có thể bị xử lý hành chính (ở mức nhẹ) và bị xử lý hình sự. Đồng thời, việc lựa chọn sử dụng ma túy, các chất gây nghiện khác của người lao động là ý chí chủ quan của người lao động, cùng với nguyên nhân tai nạn xuất phát từ sự suy giảm khả năng làm chủ và điều khiển hành vi của người lao động chứ không phải do yếu tố nguy hiểm, có hại hay các sự kiện bất ngờ tại nơi làm việc, nên người lao động khi bị tai nạn trong trường hợp này không được hưởng chế độ tai nạn lao động từ người sử dụng lao động.

Xem thêm:

Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như thế nào? (Phần 1)

Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như thế nào? (Phần 2)

Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như thế nào? (Phần 3)

Luật Hoàng Anh

 

 

 

 

Tổng đài tư vấn pháp luật

0908 308 123
Gửi câu hỏi Đặt lịch hẹn

CÔNG TY LUẬT HOÀNG ANH

Số 2/84 - Trần Quang Diệu - Phường Ô Chợ Dừa - Quận Đống Đa - TP Hà Nội

0908 308 123

luatsu@luathoanganh.vn

Tin liên quan

Thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội đồng thương lượng tập thể như thế nào?

Hỏi đáp luật Lao động 30/06/2021

Bài viết giải thích về thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội đồng thương lượng tập thể

Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thương lượng tập thể là gì?

Hỏi đáp luật Lao động 30/06/2021

Bài viết giải thích về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thương lượng tập thể

Khái niệm thỏa ước lao động tập thể theo Bộ luật lao động năm 2019 như thế nào?

Hỏi đáp luật Lao động 30/06/2021

Bài viết giải thích về khái niệm bao gồm định nghĩa và đặc điểm của thỏa ước lao động tập thể

Lấy ý kiến và ký kết thỏa ước lao động tập thể như thế nào?

Hỏi đáp luật Lao động 30/06/2021

Bài viết giải thích về giai đoạn lấy ý kiến và ký kết thỏa ước lao động tập thể